Làm chủ công nghệ trong sản xuất chế phẩm sinh học trừ rầy

Chiều ngày 18/01, Sở Khoa học và Công nghệ đã tổ chức hội đồng khoa học và công nghệ tư vấn nghiệm thu dự án sản xuất thử nghiệm cấp tỉnh “Chuyển giao quy trình phân lập và tuyển chọn giống gốc nấm xanh (Metarhizium sp.) phục vụ công tác quản lý rầy nâu hại lúa ở Đồng Tháp”. Dự án do Trung tâm KTTN và Ứng dụng KHCN Đồng Tháp làm cơ quan chủ trì, ThS. Bùi Thị Hồng Gấm làm chủ nhiệm.

Qua 3 năm thực hiện dự án, nhóm thực hiện đã tiến hành các công việc như trong hợp đồng đã được ký kết với cơ quan quản lý. Kết quả thực hiện được như sau:

– Dự án đã điều tra thu thập thông tin của 215 nông hộ tại 8 xã thuộc 4 huyện của Tỉnh. Kết quả điều tra có đến 99,5% nông hộ tin tưởng vào hiệu quả của chế phẩm nấm xanh có thể thay thế thuốc BVTV trị rầy nâu và một số sâu hại khác. Xác định hạn chế dẫn đến việc chế phẩm nấm xanh chưa được nông dân sử dụng rộng rãi là: Không có địa chỉ cung cấp chế phẩm chất lượng trên địa bàn tỉnh; Cách sử dụng chế phẩm chưa được thuận tiện.

– Hoàn thành chuyển giao 10 quy trình từ Viện Lúa ĐBSCL, kết quả chuyển giao: 2 cán bộ kỹ thuật, Dự án đã đào tạo 4 kỹ thuật viên, 3 cán bộ kỹ thuật tại địa phương. Cán bộ và kỹ thuật viên nắm vững lý thuyết và thực hành đảm bảo thực hiện việc sản xuất, chuyển giao, tư vấn, tập huấn cho tổ chức, cá nhân trong và ngoài Tỉnh.

– Triển khai thu thập 108 mẫu rầy nhiễm nấm xanh trên các ruộng lúa, tiến hành phân lập và tuyển chọn được 12 dòng nấm có hiệu lực đối với rầy nâu trong đó chọn được 01 dòng nấm có hiệu lực cao nhất tương đương với hiệu lực của nấm xanh Omerta.  Nhóm thực hiện đã sử dụng dòng nấm này để sản xuất 6.000 ống F2 và 3.000 bịch chế phẩm.  Hiện nay năng lực của cơ quan chủ trì có thể sản xuất cung ứng trên 10.000 ống F2/năm và khoảng 12.000kg chế phẩm/năm.

Hình 4.15. Mẫu rầy, sâu bị nấm ký sinh ở huyện Lấp Vò:

(a) Mẫu rầy bị nấm ký sinh 7 ngày sau khi phun; (b) Mẫu rầy bị nấm ký sinh 10 ngày sau phun; (c) Mẫu sâu cắn chẻn bị nấm ký sinh 10 ngày sau phun; (d) Mẫu sâu cuốn lá bị ký sinh 10 ngày sau phun.

– Đã tổ chức 3 lớp tập huấn huấn, 6 cuộc Hội thảo đầu bờ, 1 cuộc hội thảo khoa học tổng kết mô hình. Các buổi tập huấn, hội thảo nhằm mục đích tuyên truyền giới thiệu đến người dân lợi ích của việc sử dụng chế phẩm nấm xanh.

– Xây dựng thành công 3 mô hình ứng dụng chế phẩm nấm xanh phòng trừ rầy nâu hại lúa đã góp phần: Giảm chi phí thuốc trừ sâu rầy và giảm số lần phun thuốc 1-2 lần/vụ,  tăng lợi nhuận nông dân; Bảo vệ sức khỏe người sản xuất; Nâng cao chất lượng hạt gạo, sản xuất gạo an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

– Ngoài ra, từ kết quả sản phẩm chế phẩm nấm xanh của dự án đã được ứng dụng cho 3 mô hình trên địa bàn tỉnh: Mô hình sản xuất lúa theo hướng hữu cơ; Mô hình nấm xanh kết hợp bẩy đèn; Mô hình quản phòng trừ sâu tơ trên cải. Kết quả các mô hình được các hộ dân đánh giá cao và đang được triển khai nhân rộng. Đến nay, chế phẩm nấm xanh của Trung tâm đã được các hộ nông dân tin tưởng sử dụng với tổng diện tích trên 90ha.

Tại huyện Lấp Vò, nấm xanh đã được người nông dân sử dụng từ năm 2010 để trừ rầy nâu.  Trong Dự án “Chuyển giao quy trình sản xuất nhanh chế phẩm nấm xanh Ometar ở quy mô nông hộ và xây dựng mô hình ứng dụng Ometar trong phòng trừ rầy nâu hại lúa tại tỉnh Đồng Tháp” của Ts. Nguyễn Thị Lộc thực hiện, trên địa bàn huyện đã thành lập được 4 tổ sản xuất nấm xanh và mang lại các kết quả khả quan. Tuy nhiên sau khi Dự án kết thúc tình hình sản xuất và sử dụng giảm do ngồn cung giống nấm gốc phải mua ở Viện lúa ĐBSCL, không có đơn vị cung cấp trong tỉnh.

Theo ý kiến của các thành viên hội đồng, sản phẩm của dự án đã cơ bản đáp ứng các yêu cầu như hợp đồng đã ký kết. Chế phẩm nấm xanh là biện pháp phòng trừ rầy nâu và một số loại côn trùng khác thân thiện với môi trường, không ảnh hưởng đến sức khỏe của người nông dân, là một cơ sở để xây dựng nền nông nghiệp xanh, sạch. Kết quả của dự án đã cơ bản giải quyết được ngồn cung cấp giống nấm gốc cho bà con nông dân. Tuy nhiên,  theo đánh giá của hội đồng nhóm thực hiện cần chỉnh sửa lại một số nội dung như báo cáo tóm tắt phải cơ bản thể hiện được các nội dung và kết quả thực hiện, cần đánh giá mặt hạn chế của việc sử dụng chế phẩm nấm xanh, cần hoàn thiện quy trình kỹ thuật sử dụng nấm xanh theo hướng người nông dân dễ dàng tiếp nhận.

Cũng tại buổi nghiệm thu, các thành viên hội đồng có kiến nghị nhóm thực hiện dự án nên tiếp tục nghiên cứu để cho ra được sản phẩm mang tính thương mại hóa, tiện dụng, dễ dàng trong khâu sử dụng vì hiện nay chế phẩm khi sử dụng phải qua nhiều công đoạn. Tiếp tục nghiên cứu hiệu lực của nấm xanh trên các nhóm cây trồng khác.

Hội đồng thống nhất nghiệm thu kết quả của dự án với xếp loại ở mức Khá.

Hoàng Thật

 

Ý kiến phản hồi của bạn đọc

Đóng góp ý kiến

Email của bạn sẽ không được công khai.


*